Theo OMS, ở người lớn có huyết áp bình thường, nếu huyết áp động mạch tối đa dưới 140mmHg và huyết áp động mạch tối thiểu dưới 90 mmHg. Có tăng huyết áp nếu huyết áp tối đa trên 160mmHg và huyết áp tối thiểu trên 95mmHg. Tăng huyết áp giới hạn nếu huyết áp tối đa từ 140-160mmHg và huyết áp tối thiểu từ 90-95mmHg. Huyết áp động mạch tối đa còn gọi là huyết áp tâm thu, huyết áp động mạch tối thiểu còn gọi là huyết áp tâm trương. Huyết áp không thường xuyên ổn định mà có thể thay đổi trong ngày, đêm thường thấp hơn ngày, ở người già thường cao hơn người trẻ, nữ thường thấp hơn nam.

Tăng huyết áp là bệnh gây nhiều tai biến: những người từ 50-60 tuổi với huyết áp tâm trương 95mmHg, tỷ lệ tử vong 6,3%, huyết áp tâm trương trên 104mmHg thì tỷ lệ tử vong 15,3%.
Phân loại bệnh tăng huyết áp: Tuỳ theo nguyên nhân có thể chia ra tăng huyết áp thứ phát và tăng huyết áp nguyên phát. Ở trẻ em và người trẻ phần lớn là tăng huyết áp thứ phát. Ở người cao tuổi phần lớn là tăng huyết áp nguyên phát.
Nguyên nhân gây tăng huyết áp: 85-89% là tăng huyết áp không tìm thấy nguyên nhân, còn 11-15% là có nguyên nhân, thường gặp những nguyên nhân sau:
Do thận: viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mãn, thận đa nang, u thận, hẹp động mạch thận.
Do nội tiết: cường andostreon tiên phát, phì đại tuyến thượng thận bẩm sinh, hội chứng Cushing, u lõi thượng thận, to đầu chi.
Nguyên nhân khác: hẹp eo động mạch chủ, nhiễm độc thai nghén, bệnh tăng hồng cầu, bệnh tê phù, tăng áp lực nội sọ, …
Khi không tìm thấy nguyên nhân, người ta gọi là tăng huyết áp nguyên phát.
Tăng huyết áp nguyên phát là bệnh của thời đại “văn minh”, bệnh này có liên quan tới sự phát triển công nghiệp, đô thị và nhịp sống căng thẳng. bệnh cũng thường gặp ở các nước phát triển có mức sống cao. Việc tiêu thụ nhiều muối cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng huyết áp, các yếu tố tâm lý xã hội gây tình trạng căng thẳng cũng tạo điều kiện cho tăng huyết áp phát triển. Bệnh thường có yếu tố gia đình.
Triệu chứng:
Triệu chứng tăng huyết áp phụ thuộc vào các giai đoạn của bệnh. Theo OMS, tăng huyết áp có 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Bệnh nhân không có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực thể nào.
Giai đoạn 2: Bệnh nhân có ít nhất một trong các dấu hiệu thực tổn sau: dày thất trái ( thấy được khi khám lâm sàng, Xquang, điện tâm đồ, siêu âm tim), hẹp các động mạch võng mạc lan rộng hay khu trú, có protein niệu hoặc creatnin huyết tương tăng nhẹ.
Giai đoạn 3: Bệnh đã gây những tổn thương ở tim như cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, suy thất trái. Ở não gây nhồi máu não, xuất huyết não. Ở đáy mắt gây xuất huyết võng mạc, có thể phù gai thị. Ở thận gây suy thận, ngoài ra gây viêm tắc động mạch.
Tăng huyết áp ác tính: Loại này chiếm khoảng 2-5%, phần lớn xảy ra ở người có tăng huyết áp nhẹ hoặc vừa từ trước. Tất cả các loại tăng huyết áp do nguyên nhân khác nhau đều có thể chuyển biến thành ác tính. Triệu chứng nổi bật là hội chứng não: nhức đầu dữ dội, nôn, chỉ số huyết áp thường rất cao cả tối thiểu lẫn tối đa, tiến triển nhanh và nặng, thường có biến chứng ở não, tim như xuất huyết não, nhồi máu cơ tim.
Điều trị tăng huyết áp:
Chữa các bệnh có thể là nguyên nhân của tăng huyết áp. Nguyên tắc là trên một bệnh nhân tăng huyết áp phải cố gắng tìm nguyên nhân, khi không tìm thấy nguyên nhân mới coi là tăng huyết áp nguyên phát.
Hiện nay các thuốc điều trị cao huyết áp phổ biến vẫn là các nhóm thuốc có tác dụng hạ áp tức thời như thuốc giãn mạch, thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển…người bị cao huyết áp nên đi khám và theo dõi bệnh định kỳ tại cơ sở y tế, mỗi người bệnh có chế độ dùng thuốc khác nhau, tuỳ theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ.
Phòng bệnh tăng huyết áp:
Trong chế độ ăn uống nên hạn chế ăn muối, thức ăn nhiều đạm, các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê…cần giảm bớt chất béo nhất là khi có dấu hiệu vữa xơ động mạch, ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin như rau xanh.
Trong chế độ sinh hoạt: điều quan trọng hơn cả là nên làm việc một cách khoa học, cần kiềm chế bản thân, tránh giận dữ lo lắng quá mức, sinh hoạt hàng ngày nên có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn hợp lý, tập luyện thể dục các bài dưỡng sinh nhẹ nhàng, đảm bảo giấc ngủ vì trong thời gian ngủ huyết áp hạ xuống. Giảm cân và giữ trọng lượng cơ thể vừa phải.
( Theo bách khoa thư bệnh học)