Bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hoá do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh này là tăng đường máu mãn tính cùng với rối loạn chuyển hoá chất đường, chất béo, chất đạm. Nguyên nhân do thiếu insuline có kèm hoặc không kèm kháng insuline với các mức độ khác nhau. Hệ quả của tăng đường máu mãn tính là tổn thương nhiều cơ quan đích như: Mắt, thận, thần kinh, tim mạch…

Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010 trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu).Tại Việt Nam trong bốn thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ đái tháo đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm Hà Nội lên tới 7%. Thế nhưng đến thời điểm hiện nay số bệnh nhân được chẩn đoán chỉ là phần nổi, có tới 65% bệnh nhân còn chưa biết mình mắc bệnh. Bệnh đái tháo đường là gánh nặng không chỉ của mỗi cá nhân, gia đình mà còn là một vấn đề nan giải cho nền kinh tế và xã hội.

      Phân loại bệnh đái tháo đường:

    ĐTĐ tuýp 1: Là một bệnh tự miễn, thường sảy ra ở người trẻ, chiếm khoảng 5-10% số người bệnh, do tế bào tuyến tuỵ bị phá huỷ không sản xuất ra insulin nên việc điều trị là phải bắt buộc tiêm insulin.

    ĐTĐ tuyp 2: Phổ biến nhất chiếm 90-95% các trường hợp liên quan đến yếu tố di truyền, thừa cân, béo phì, ít vận động…

    ĐTĐ thai kỳ: Thường được phát hiện vào quý 2 và 3 thai kỳ. Bệnh này chiếm khoảng 2% số người mang thai và thường khỏi sau khi sinh. Tuy nhiên 50% trong số thai phụ này sẽ phát triển thành đái tháo đường tuýp 2 trong vòng 15 năm sau đó.

Các dạng khác: Hiếm gặp, do bệnh lý nội tiết, tổn thương tuỵ, do dùng thuốc…

Triệu chứng:

   ĐTĐ tuyp1: Thường gặp ở người trẻ với các triệu chứng khá rầm rộ như:

- Tiểu nhiều, khát nhiều.

- Ăn nhiều nhưng vẫn gầy nhanh.

- Mệt mỏi, yếu sức…

Bạn nên đi xét nghiệm ngay khi có triệu chứng bệnh để chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời.

   ĐTĐ tuyp2: Các triệu chứng nêu trên biểu hiện không đầy đủ và không rõ ràng. Bệnh thường diễn tiến thầm lặng, tình cờ phát hiện khi đi khám sức khoẻ, hay người bệnh đi khám vì các biến chứng của bệnh như cao huyết áp, loét chân, vết thương lâu lành, mắt nhìn mờ…

Bạn nên đi khám sức khoẻ thường xuyên và làm xét nghiệm khi có các dấu hiệu thừa cân, béo phì, khi gia đình có người thân trực hệ như cha, mẹ, anh chị em ruột, con…bị bệnh, người trên 45 tuổi, hay có tiền sử sinh con trên 4 kg.

Chẩn đoán: Nếu 2 lần xét nghiệm cho kết quả xét nghiệm đường huyết cao, thì bạn được xác định là đái tháo đường. Đường huyết cao khi:

Đường huyết lúc đói(sau ăn ít nhất 8 giờ) từ 7mmol/l trở lên hay từ 126mg/dl.

Hoặc đường huyết sau ăn 2 giờ hoặc lấy bất kỳ từ 11,1mmol/l trở lên hay từ 200mg/dl trở lên.

Biến chứng:

Biến chứng cấp: Hôn mê do nhiễm toan ceton, hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu

Biến chứng mạn:

- Suy thận dẫn đến phải chạy thận nhan tạo.

- Tổn thương mắt dẫn đến giảm thị lực và mù loà.

- Tổn thương bàn chân dẫn đến hoại tử chân.

- Tim mạch: cao huyết áp dẫn đến nhồi máu não, rối loạn tuần hoàn ngoại vi.

- Bệnh lý thần kinh gây rối loạn cảm giác, rối loạn tiểu tiện, khó tiêu và giảm khả năng tình dục.

- Các nhiễm trùng ở da, đường sinh dục, lao phổi…

Người bệnh tự kiểm soát đường huyết như thế nào:

    Nên thường xuyên kiểm tra đường huyết để biết được mức đường huyết của mình, nếu có điều kiện nên trang bị cho mình một máy đo đường huyết cá nhân, để kiểm tra đường máu cho thuận lợi. Kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, giữ ổn định đường huyết sẽ giảm nguy cơ hoặc làm chậm sự xuất hiện của các biến chứng do bệnh gây ra. Để duy trì cuộc sống bình thường khoẻ mạnh, người bệnh phải phối hợp chế độ ăn, chế độ luyện tập và thuốc để ổn định mức đường huyết càng gần bình thường càng tốt.

Chế độ ăn: Khẩu phần ăn phải cân đối, nên ăn nhiều chất xơ, hạn chế thức ăn nhiều chất bột đường, không nên ăn quá nhiều trong mỗi bữa, nên chia khẩu phần ăn trong ngày thành 5-6 bữa nhỏ để tránh tăng đường huyết quá mức sau ăn và hạ đường huyết khi xa bữa ăn.

Chế độ luyện tập: Thường xuyên luyện tập thể lực để giúp kiểm soát đường máu tốt hơn, luyện tập để giúp kiểm soát cân nặng của cơ thể và hạ thấp nồng độ mỡ máu.

 ( Theo tài liệu BV Nội tiết TW)